Một công ty sở hữu big data trên internet / mobile của toàn thế giới (Google), một sở hữu data giao dịch của những doanh nghiệp lớn nhất thế giới (Salesforce) mua các “siêu máy phân tích dữ liệu” thì có thể đoán được tham vọng của họ trong mảng Data Analytics lớn đến mức nào.
Trở lại thị trường Marketing & Sale tại Việt Nam trong mấy năm qua, một mặt thổi phồng quá mức về Big Data, Machine Learning (trong khi ứng dụng trong thực tế rất hạn chế), một mặt bị chán nản bởi nạn mua bán thông tin (rồi spam sms, email, messenger tràn lan)….Tuy nhiên có nhiều doanh nghiệp đã ứng dụng Data Analytics rất thành công và tạo ra tăng trưởng vượt bậc. Ví dụ:
1- Thế nào là Seed Funding?
Theo cách đánh giá thông thường tại Silicon Valeey, Seed Money là nguồn vốn đầu tiên mà startup có thể nhận được sau tiền túi của chính những sáng lập viên. Là cấp độ đầu tiên trong các hình thức đầu tư mạo hiểm, seed money thường có giá trị nhỏ (từ 10.000 – 20.000$) với mục đích là trang trải các chi phí duy trì startup trong giai đoạn đầu. Nói cách khác, seed money tạo điều kiện cho các startup phát triển sản phẩm/ mô hình kinh doanh đủ hoàn thiện để hấp dẫn các nguồn đầu tư khác. Đổi lại, các nhà đầu tư sẽ nhận lại một khoản cổ phần nhỏ – dưới 10% của startup.
Các nhà đầu tư Seed Money – các Seed Fund có thể đến từ rất nhiều nguồn. Các nhà đầu tư cá nhân, các angel investor (thường là các chuyên gia đã thành công trong ngành), các quỹ đầu tư, v..v.
Trước khi có sự xuất hiện của Amazon, Best Buy luôn giữ vững vị trí dẫn đầu của mình, nhất là ở ngành hàng điện tử và điện gia dụng. Với số lượng cửa hàng cũng như vị trí “vàng” lớn, Best Buy liên tục gia tăng về doanh thu, lợi nhuận và giá trị… trở thành một cổ phiếu “hot” trong mắt những nhà đầu tư phố Wall.
Nhưng “cuộc chơi” đã nhanh chóng thay đổi với “kẻ phá đám” Amazon, chuỗi cửa hàng “vàng” của Best Buy lập tức trở thành gánh nặng tài chính. Năm 2012 đánh dấu tận cùng khủng hoảng khi cổ phiếu Best Buy giảm chỉ còn 11,29 USD, mức thấp kỷ lục kể từ khi lên sàn.
1) Đầu tiên, chúng ta cần hiểu mô hình Holdings là gì, nó khác gì với các mô hình kinh doanh khác?
Holdings là một dạng công ty hoạt động đa ngành, được thành lập với mục đích nắm giữ quyền kiểm soát tại các công ty khác. Mỗi công ty sẽ phụ trách một hoạt động riêng lẻ và thường mang tính bổ trợ nhau, trong đó, công ty mẹ (trong trường hợp này là holding) đóng vai trò là cổ đông lớn tại các công ty con nhưng không trực tiếp điều phối kinh doanh. Đây chính là điểm khác biệt của holdings so với tập đoàn khi tập đoàn sẽ nằm hoàn toàn quyền chỉ định kinh doanh, hay điều phối hoạt động. Công ty con trực thuộc holdings sẽ được tự chủ hơn trực thuộc tập đoàn hoặc tổng công ty.
Các nhà tiếp thị chuyên về SEO thường quan tâm nhiều nhất đến xếp hạng của Google và thuật tìm kiếm thông tin bằng từ khóa (keyword).
Mục tiêu cuối cùng của họ là tạo ra nhiều sự chú ý, theo dõi nội dung càng nhiều càng tốt bằng cách đạt được các vị trí xếp hạng cao trong các trang hiển thị kết quả tìm kiếm thông tin.
Trong khi đó, các nhà tiếp thị thiên về nội dung thường chú trọng đến chất lượng của bài viết và câu chuyện trong thông điệp mà họ muốn chia sẻ với khách hàng. Một số chuyên gia tiếp thị có thể nhận ra đó là sự khác biệt giữa “số lượng” và “chất lượng”.
Jeff Bezos đã trở thành cái tên quen thuộc, mang đến cho Amazon nhiều sự chú ý miễn phí và giúp công ty này trở thành người khổng lồ trong lĩnh vực thương mại điện tử, nhận được sự quan tâm lớn ở tầm quốc tế. Trong khi đó, UPS có lẽ phải chi rất nhiều để chuyển tải những thông điệp của họ nếu muốn có được sự lan tỏa và kết nối cảm xúc như Amazon.
Thương hiệu cá nhân của CEO có ảnh hưởng lớn đối với danh tiếng của một công ty và sau cùng là kết quả tài chính của công ty đó. Theo một nghiên cứu do công ty quan hệ công chúng Weber Shandwick và KRC Research phối hợp thực hiện, các quản trị viên toàn cầu ước tính rằng 44% danh tiếng của một công ty là nhờ vào danh tiếng của CEO. Ngày nay, các quản trị viên cao cấp cũng đồng thời nắm giữ vai trò “trưởng đại sứ thương hiệu”.
Cơ cấu ma trận là loại cơ cấu quản trị hiện đại, hiệu quả. Cách tổ chức theo ma trận mang lại triển vọng lớn cho nhiều tổ chức trong điều kiện môi trường kinh doanh hay xã hội thay đổi với nhiều yếu tố bất định. Đây là mô hình được nhiều nhà quản trị quan tâm khi thiết kế bộ máy quản trị của tổ chức.
Cơ cấu tổ chức ma trận là loại cơ cấu dựa trên hệ thống quyền lực và hỗ trợ nhiều chiều. Cơ cấu ma trận có hai tuyến quyền lực là tuyến chức năng hoạt động theo chiều dọc và tuyến sản phẩm hay cơ sở hoạt động theo chiều ngang.
Dòng truyền thông lưu chuyển theo hướng xuống và ngang trong tổ chức. Trong cơ cấu này, xuất hiện người chịu trách nhiệm phối hợp các bộ phận và phân chia quyền lực với các nhà quản trị theo chức năng.
Tầm hạn quản trị, hay còn gọi là tầm hạn kiểm soát, là khái niệm dùng để chỉ số lượng nhân viên cấp dưới mà một nhà quản trị có thể điều khiển một cách tốt nhất, nghĩa là quản trị, giao việc, kiểm tra, hướng dẫn, lãnh đạo họ một cách thỏa đáng, có kết quả.
Tầm hạn quản trị thường được thể hiện thông qua số người báo cáo trực tiếp cho một nhà quản trị. Các nhà quản trị có tầm hạn quản trị hẹp chỉ giám sát công việc của vài người, trái lại, người có tầm hạn quản trị rộng được nhiều người báo cáo.
Vấn đề đặt ra là tầm kiểm soát của một người có thể là bao nhiêu? Mặc dù không thể đưa ra con số bao nhiêu là lý tưởng nhất, nhưng theo kinh nghiệm của nhiều người, tầm hạn quản trị tốt nhất cho một nhà quản trị trung bình trong khoảng 4 – 8 nhân viên thuộc cấp.
Kinh doanh điện tử
Kinh doanh điện tử là thiết lập hệ thống hay ứng dụng thông tin để phục vụ và làm tăng hiệu quả kinh doanh. Ngày nay, quá trình điện tử hóa này chủ yếu dựa trên công nghệ web. Như vậy, kinh doanh điện tử bao phủ quá trình hoạt động trong doanh nghiệp, từ mua hàng qua mạng (e-procurement, e-purchasing), quản lý dây chuyền cung cấp nguyên vật liệu, xử lý đơn hàng, phục vụ khách hàng và giao dịch với đối tác qua các công cụ điện tử cho đến chia sẻ dữ liệu giữa các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp.